Bản án của Tòa Án về Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến khởi kiện Công ty xây lắp 386

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến, buộc  Công ty xây lắp 386 thanh toán nợ hợp đồng cung cấp lắp đặt khung nhà thép gồm:

- 144.580.902 đồng nợ gốc.

- 9.108.996 đồng tiền lãi.

- 14.500.000 đồng tiền chi phí pháp lý.

Tổng cộng 168.189.498 đồng


Bản án số: 47/2007/KDTM-ST

Ngày: 18.4.2007

V/v tranh chấp Hợp đồng cung cấp lắp đặt nhà thép tiền chế

Trong các ngày 18 tháng 4 năm 2007, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2007/TLST-KDTM ngày 02 tháng 3 năm 2007 về Tranh chấp hợp đồng cung cấp lắp đặt nhà thép tiền chế theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/KDTM/QĐXX-ST ngày 05 tháng 4 năm 2007 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến

Trụ sở: 75, tổ 3, cụm 1, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

Ông Hoàng Trọng Tuyên - luật sư Văn phòng luật sư Hoàng Minh, Đoàn luật sư Hà Nội.

Theo giấy uỷ quyền ngày 15.12.2006 của giám đốc Công ty

Bị đơn: Công ty xây lắp 386

Trụ sở: 116 Vũ Xuân Thiều, quận Long Biên, Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn:

Ông Hoàng Hải Nam - kế toán trưởng Công ty - theo giấy uỷ quyền số 488/GUQ-386 ngày 16.4.2007 của giám đốc Công ty

Nhận thấy

Tại đơn khởi kiện ngày 22.01.2007 và bản tự khai , nguyên đơn Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến, trình bày:

Ngày 30.9.2003 nguyên đơn có ký với bị đơn – Công ty xây lắp 386 – Bộ quốc phòng – hợp đồng kinh tế số 53/HĐKT. Theo hợp đồng, nguyên đơn cung cấp lắp đặt cho bị đơn hệ thống nhà thép có trị giá 1.259.536.000 đồng (bao gồm cả VAT, chi phí vận chuyển, lắp đặt, hoàn thiện và bảo hành sản phẩm). Địa điểm lắp đặt là công trình của Xí nghiệp 199 - Công ty may 20 tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Thời hạn giao hàng là ngày 20.10.2003. Hợp đồng có hiệu lực đến hết ngày 31.12.2003 .

Đến ngày 01.8.2004 hai bên có biên bản đối chiếu xác nhận công nợ. Theo biên bản này bị đơn còn nợ nguyên đơn 304.580.902 đồng.

Ngày 18.8.2006 bị đơn có công văn cam kết sẽ trả xong toàn bộ nợ trong tháng 9.2006 và đề nghị nguyên đơn giảm trừ nợ 45.000.000 đồng. Nhưng bị đơn không thực hiện được cam kết này .

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nay nguyên đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán nốt tiền hàng theo hợp đồng là 144.580.902 đồng, lãi phát sinh là trên 66 triệu đồng và không đồng ý giảm trừ 45.000.000 đồng .

Phía bị đơn – Công ty 386 trình bày:

Thời điểm 2003 ông Nguyễn Đăng Biên là cán bộ của công ty 386 có thực hiện hợp đồng kinh tế với Công ty Phúc Tiến, theo quy chế nhận khoán của Công ty giao. Qúa trình thực hiện hợp đồng, ông Biên phải tự chủ động thi công, cân đối vật tư, trả nợ khách hàng… Nếu có thua lỗ ông Biên phải tự chịu .

Sau khi thực hiện xong hợp đồng, ông Biên có ký xác nhận công nợ với Công ty Phúc tiến. Công ty chưa kiểm tra lại nhưng cũng xác nhận vẫn còn một khoản nợ phải trả Công ty Phúc Tiến .

Qua theo dõi việc thực hiện hợp đồng, Công ty biết ông Biên bị lỗ ở hợp đồng này. Theo công văn Công ty Phúc Tiến thông báo, ông Biên còn nợ 99.580.000 đồng .Sau khi đã được trừ 45.000.000 đồng. Công ty 386 đề nghị Công ty Phúc Tiến chia sẻ rủi ro, chấp nhận hướng giải quyết là Công ty 386 sẽ cho ông Biên vay số tiền 99.580.902 đồng để trả ngay Công ty Phúc Tiến. Còn lãi đề nghị Công ty Phúc Tiến miễn toàn bộ cho ông Biên .

Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn giữ yêu cầu đòi bị đơn nợ gốc; và lãi là 9.108.996 đồng và có bổ sung thêm yêu cầu đòi bồi thường chi phí thuê luật sư theo hợp đồng dịch vụ pháp lý là 14.500.000 đồng. Tổng cộng 168.198.498 đồng. Hợp đồng dịch vụ được nguyên đơn xuất trình tại phiên toà .

Tại phiên toà bị đơn không đồng ý chịu trách nhiệm trả khoản nợ 144.580.902 đồng cho nguyên đơn. Theo bị đơn trách nhiệm đó thuộc về cá nhân ông Nguyễn Đăng Biên.

Bị đơn vẫn giữ quan điểm các khoản tiền Công ty 386 đã trả nguyên đơn chỉ là tạm ứng. Đến nay bị đơn không có tài liệu giao dịch với nguyên đơn, không có biên bản thanh lý hợp đồng, mặc dù hợp đồng có quy định hiệu lực đến ngày 31.12.2003. Do việc thanh lý hợp đồng đén nay chưa thực hiện nên bị đơn chưa chấp nhận số liệu như nguyên đơn nêu. Bị đơn còn đề nghị với hợp đồng quy định thời hiệu như vậy nên hợp đồng này đến nay là vô hiệu .

Phía bị đơn cũng công nhận đến nay chưa có văn bản nào yêu cầu nguyên đơn thanh lý hợp đồng, và cũng chưa có văn bản nào thắc mắc về khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá với nguyên đơn. Bị đơn còn xác nhận công trình đã được bàn giao cho Xí nghiệp 99 Công ty may 20 sử dụng từ tháng 4.2004.

Bị đơn còn trình bày với trách nhiệm là cơ quan chủ quản của ông Nguyễn Đăng Biên, bị đơn đã đứng ra hỗ trợ ông Biên trả nợ. Đến nay khoản nợ còn một phần nhỏ của hợp đồng. Nhưng do ông Biên đang rất khó khăn nên không có khả năng trả nợ tiếp vì có một số công trình bị lỗ cùng công trình này. Còn Công ty cũng không thể hỗ trợ tiếp vì phải cân đối trong đơn vị .

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà.

Sau khi thảo luận và nghị bàn.

Xét thấy

1. Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến là tổ chức kinh tế độc lập, với chức năng buôn bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng… sản xuất các sản phẩm cơ khí phục vụ ngành xây dựng .

Công ty xây lắp 386 là đơn vị kinh tế độc lập, do Bộ quốc phòng ký quyết định thành lập số 399/QĐ-QP ngày 27.7.1993. Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 01060000241 do Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội cấp đăng ký lần đầu 12.10.1993, với chức năng xây dựng các công trình công nghiệp …

Như vậy, hai Công ty có tư cách pháp nhân để ký, thực hiện các hợp đồng kinh doanh thương mại, cũng như giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ hợp đồng đã ký.

2. Ngày 30.9.2003 hai bên ký hợp đồng kinh tế số 53/HĐKT về việc cung cấp lắp đặt khung nhà thép. Hợp đồng có quy định thời gian hiệu lực hết ngày 31.12.2003. Nhưng thực tế, đến ngày 01.8.2004 hai bên còn có biên bản đối chiếu công nợ và kể từ đó cho đến tháng 10.2006, các bên còn có các công văn trao đổi và bị đơn – Công ty xây lắp 386 – vẫn thanh toán tiền mua vật tư của hợp đồng cho Công ty Phúc Tiến – nguyên đơn .

Chỉ đến ngày 23.12.2006, sau thông báo trả nợ cuối cùng thì bị đơn không trả được nợ nữa và đến ngày 10.01.2007 Công ty cổ phần Phúc Tiến có đơn khởi kiện.

Dođó căn cứ theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 29, điểm a khoản 3 Điều 33 của Bộ luật tố tụng dân sự và thực hiện theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 32/2004/QH/11 của Quốc hội khoá 11 về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự,Toà án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết tranh chấp với quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng cung ứng lắp đặt theo Luật Thương mại như vậy là có cơ sở .

3. Như đã nêu, đây là hợp đồng cung cấp (mua-bán) ký từ tháng 9.2003 và việc thực hiện kéo dài đến tháng 10.2006 (nhưng bị đơn chưa thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán). Do đó, ngoài việc áp dụng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế như hợp đồng đã viện đến, thì cần áp dụng Luật Thương mại năm 2004 và Bộ luật tố tụng dân sự. Trong vụ kiện này nguyên đơn đã có nhiều lần gia hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn. Lần cuối cùng là ngày 23.12.2006 mà bị đơn vẫn không thực hiện được. Tính đến ngày 10.01.2007 nguyên đơn khởi kiện vẫn nằm trong quy định tại Điều 319 Luật Thương mại cũng như Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó Toà án chấp nhận để xem xét .

4. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy: Ngày 30.9.2003, Công ty xây lắp 386 – là bên A – bên mua do ông Nguyễn Chí Dũng – giám đốc đại diện pháp nhân ký hợp đồng kinh tế số 53/HĐKT với Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến, do bà Nguyễn Thị Vinh - phó giám đốc ký theo ủy quyền, về việc công ty Phúc Tiến cung cấp (bên bán) cho Công ty 386 (bên mua) khung nhà thép tiền chế.

Hợp đồng có trị giá 1.259.360.000 đồng đã bao gồm thuế VAT và các chi phí lắp đặt, vận chuyển, bảo hành sản phẩm. Địa điểm lắp đặt tại Xí nghiệp 199 của Công ty may 20 tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

Hợp đồng có hiệu lực đến ngày 31.12.2003, nhưng trên thực tế, theo biên bản đối chiếu công nợ giữa hai bên ngày 01.8.2004 thể hiện lô hàng (vật tư) cuối cùng nguyên đơn giao cho bị đơn vào ngày 21.02.2004; và ngày cuối cùng bị đơn thanh toán trước khi lập biên bản là ngày 24.4.2004 với số tiền 100 triệu đồng uỷ nhiệm chi qua ngân hàng. Cũng tại biên bản này hai bên đã xác định trị giá tài sản mà bị đơn đã thực hiện là 1.177.041.302 đồng; bị đơn đã thanh toán 872.460.400 đồng; còn phải thanh toán nốt 304.580.902 đồng. Tuy nhiên, biên bản đối chiếu công nợ cũng không qui định thời hạn cuối cùng bị đơn phải trả nguyên đơn số nợ trên, và bị đơn vẫn tiếp tục trả nợ.

Cụ thể tháng 10.2006 bị đơn trả 50.000.000 đồng theo uỷ nhiệm chi; tháng 01.2005 trả tiếp 30.000.000 đồng và ngày 27.9.2006 trả uỷ nhiệm chi 80.000.000 đồng. Như vậy, còn nợ 144.580.902 đồng.

5. Qúa trình Toà án giải quyết vụ kiện, phía bị đơn trình bày việc thực hiện hợp đồng bị đơn đã giao cho ông Biên - cán bộ trong đơn vị, thực hiện theo cơ chế khoán. Theo đó ông Biên hoàn toàn chủ động thi công, thanh toán với nguyên đơn và nếu có lỗ phải tự chịu. Bị đơn còn trình bày việc ông Biên thực hiện hợp đồng như thế nào, bị đơn chưa kiểm tra nhưng vẫn xác nhận vẫn còn một khoản phải trả nguyên đơn. Tại phiên toà hôm nay bị đơn lại cho rằng trách nhiệm trả nợ nguyên đơn thuộc về cá nhân ông Biên. Bị đơn đã hỗ trợ ông Biên trong khả năng cho phép. Còn lại ông Biên phải tự chịu .

Thấy như bị đơn đã nêu, ông Biên là cán bộ trong Công ty 386 – bị đơn. Việc thực hiện cơ chế khoán như thế nào là việc nội bộ giữa ông Biên với bị đơn, hai bên tự giải quyết sau. Bởi lẽ bị đơn là pháp nhân độc lập, chủ thể của quan hệ kinh doanh thương mại; hợp đồng do đại diện theo pháp luật của bị đơn ký; việc trả tiền cũng do bị đơn chi trả thông qua tài khoản của mình tại ngân hàng.

Do đó, bị đơn phải chịu trách nhiệm đến cùng với nguyên đơn về việc thanh toán tiền hàng theo hợp đồng đã ký. Và Toà án thấy cần chấp nhận yêu cầu đòi tiền hàng của nguyên đơn đối với bị đơn.

6. Về số tiền nguyên đơn yêu cầu 144.580.902 đồng. Phía bị đơn chỉ xác định có trách nhiệm “hỗ trợ“ ông Biên 99.580.902 đồng. Thấy rằng tại công văn số 97 ngày 05.9.2006 nguyên đơn đồng ý giảm trừ cho bị đơn 45.000.000 đồng với điều bị đơn trả ngay số nợ còn lại trước ngày 30.9.2006. Đồng thời công văn này cũng khẳng định nếu bị đơn không thực hiện đIều kiện thời gian trên thì sẽ không được giảm 45.000.000 đồng. Trên thực tế bị đơn không thực hịên đúng công văn này nên nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả toàn bộ số nợ gốc còn lại 144.560.902 đồng và không đồng ý giảm trừ 45.000.000 đồng nữa. Xét việc giảm trừ của nguyên đơn là có điều kiện, nhưng bị đơn không thực hiện được điều kiện đó nên đương nhiên việc giảm trừ mất hiệu lực. Toà án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn toàn bộ nợ gốc 144.580.902 đồng là có căn cứ, phù hợp pháp luật

7. Về tiền lãi nguyên đơn đề nghị được tích lãi từ tháng 10.2006 đến phiên toà hôm nay, theo mức lãi suất 1,05%/tháng với số tiền 9.108.996 đồng như vậy là phù hợp với quy định của luật thương mại nên được chấp thuận

8. Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn có yêu cầu bổ sung. Cụ thể yêu cầu bị đơn phải chịu bồi thường chi phí là 14.500.000 đồng. Đây là khoản tiền dịch vụ pháp lý nguyên đơn phảI trả luật sư theo hợp đồng dich vụ số 36HĐLS-06 ngày 29.12.2006 nguyên đơn đã kí với Văn phòng luật sư Hoàng Minh - Đoàn luật sư Hà Nội. Yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với Điều 306 Luật Thương mại nên được chấp nhận.

9. Về vấn đề thanh lý hợp đồng, thấy rằng, kể từ khi nguyên đơn cung cấp vật tư cho bị đơn lần cuối cùng ngày 21.02.2004 đến ngày 01.8.2004, hai bên có biên bản đối chiếu công nợ và đến nay, không có tài liệu nào trong hồ sơ thể hiện bị đơn có thắc mắc với nguyên đơn về khối lượng, chất lượng, chủng loại và kỹ thuật lắp đặt vật tư mà nguyên đơn đã thực hiện. Như vậy khẳng định đến nay nguyên đơn đã hoàn thành nghĩa vụ của họ theo hợp đồng. Lẽ ra hai bên phải cùng nhau tiến hành thanh lý hợp đồng theo quy định của pháp luật. Nhưng do bị đơn vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán, cho đến ngày 23.12.2006 mới không trả tiền nữa. Tuy nhiên đến nay chỉ còn một phần thanh toán cuối cùng của hợp đồng nên Toà án thấy cần xác định hợp đồng số 53/HĐKT nêu trên được thanh lý kể từ ngày hôm nay – 18.4.2007 .

Từ phân tích trên, Toà án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán trả nguyên đơn nợ gốc 144.580.902 đồng; lãi 9.108.996 đồng; chi phí khác 14.500.000 đồng. Cộng là 168.189. 498 đồng. Số tiền này sẽ tiếp tục được tính lãi theo quy định của pháp luật về thi hành án.

10. Về án phí:

Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Được hoàn lại 4.500.000 đồng dự phí đã nộp theo biên lai số 7100 ngày 01.3.2007 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Bị đơn chịu 7.720.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Vì các lẽ trên .

Quyết định

- Căn Điều 29; Điều 33; Điều 131; Điều 159 và Điều 245 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 237; Điều 306; Điều 319 và Điều 50 Luật Thương mại.

- Căn cứ Nghị định 70/CP của Chính phủ quy định về án phí

- Căn cứ Thông tư liên tịch số 01/TTLT của Bộ Tư pháp – Bộ Tài chính – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành án về tài sản.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến đối với Công ty xây lắp 386.

Buộc Công ty xây lắp 386 thanh toán cho Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến theo hợp đồng số 53/HĐKT ngày 30.9.2003 gồm:

- 144.580.902 đồng nợ gốc.

- 9.108.996 đồng tiền lãi.

- 14.500.000 đồng tiền chi phí pháp lý.

Tổng cộng 168.189.498 đồng (một trăm sáu mươi tám triệu, một trăm tám mươi chín nghìn, bốn trăm chín mươi tám đồng).

2. Tuyên bố hợp đồng số 53/HĐKT ngày 30.9.2003 giữa Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến và Công ty xây lắp 386 được thanh lý từ ngày 18.4.2007 .

3. Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự .

4. án phí:

Công ty cổ phần sản xuất thương mại Phúc Tiến không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Công ty được hoàn lại 4.500.000 đồng dự phí theo biên lai số 7100 ngày 01.3.2007 tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Công ty xây lắp 386 chịu 7.720.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật nguyên đơn có yêu cầu thi hành án mà bị đơn chưa trả hết nợ thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu lãi của số tiền phải thi hành theo mức lãi suất tín dụng quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định cho đến khi trả hết nợ.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

BẮC VIỆT LUẬT ( BVL LAWFIFM)
" HÃY NÓI VỚI LUẬT SƯ ĐIỀU BẠN CẦN"
-------------------------------------------
LIÊN HỆ DỊCH VỤ Ở ĐÂY:
HOTLINE: 0938188889 - 0988631168(Luật sư Vũ Dũng)
Email: ceo@bacvietluat.vn – hoặc dichvu@bacvietluat.vn
Website: www.sanduan.vn - www.bacvietluat.vn - www.tuvanluat.com.vn
HOẶC BẠN ĐIỀN VÀO Ô DƯỚI ĐÂY ĐỂ GẶP LUẬT SƯ:
Liên hệ yêu cầu dịch vụ với luật sư BVL Lawfirm.
Tên
Email
Tiêu đề
Nội dung + Tel

Hỗ trợ

 
Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Hotline
  • 0988631168
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp
  • Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Hotline
  • 0938188889
  • Đăng ký kinh doanh - Giấy phép
  • Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Luật sư tư vấn
  • 0913.753.918
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp
  • Đấu thầu – Mua bán doanh nghiệp
  • Mr Dũng
  • 01686319999
  • Đấu thầu – Mua bán doanh nghiệp
  • Thành lập doanh nghiệp
  • TÊN NHÂN VIÊN
  • 0422155966
  • Thành lập doanh nghiệp
  • Tranh tụng – tư vấn luật
  • Mr Vũ
  • 0988631168
  • Tranh tụng – tư vấn luật
  • Mua bán công ty – Tư vấn dự án
  • Mr Dũng
  • 01687696666
  • Mua bán công ty – Tư vấn dự án
  • TIN

    Luật Đầu tư 2005 giải thích “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà ...

    Trước 1932, Thái Lan là một nhà nước quân chủ tuyệt đối. Cuộc đảo chính năm 1932 lật đổ chế độ quân chủ đã đưa giới quân sự trở thành lực lượng chính trị chiếm ưu thế trong nước, chi phối các hoạt động lập pháp.