Công ty TNHH SX và TM Mộc Thuỷ (nguyên đơn) khởi kiện đòi Công ty CP SX TM XNK và DV Hồng Ngọc

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi nợ số tiền 575.807.540 đồng.

Về yêu cầu đòi phạt chậm thanh toán là phù hợp thỏa thuận trong hợp đồng. Về mức tính phạt : Luật thương mại năm 1997 có hiệu lực từ ngày 1-1-1998, tại điều 233 qui định về quyền đòi tiền lãi do chậm thanh toán: Trong trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán phí dịch vụ, các chi phí khác thì bên kia có quyền đòi tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng NN VN qui định tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có qui định khác. Điều III trong hợp đồng các bên đãï có thỏa thuận mức phạt là 5%/tháng nhưng nguyên đơn chỉ yêu cầu tính mức 2%/tháng nên ghi nhận sự tự nguyện này.


Bản án số: 877/2007/KDTM-ST Ngày: 30-5-2007

Về việc : Tranh chấp hợp đồng mua bán

Ngày 28 và ngày 30 tháng 5 năm 2007 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 539/TLST-KDTM ngày 08-8-2006 về tranh chấp hợp đồng mua bán máy theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 766/2007/QĐST-KDTM ngày 28-4-2007, giữa:

Nguyên đơn Công ty TNHH SX & TM Mộc Thủy

Địa chỉ: 286/5 (số cũ :138b/5) Tô Hiến Thành, P. 15, Q. 10, TPHCM

Đại diện Ông Lê Văn Đặng

GUQ số 01/UQ-MT ngày 24/10/2006 (có mặt)

Bị đơn Công ty CP SX – TM XNK DV Hồng Ngọc

Địa chỉ: 222 Cộng Hoà, P. 12, Q. Tân Bình, TPHCM

Đại diện Ông Phạm Thái Hồng- Chủ tịch Hội đồng quản trị, đại diện theo pháp luật (có mặt)

NHẬN THẤY:

Trình bày của nguyên đơn

Ký kết hợp đồng :

Công ty TNHH SX và TM Mộc Thuỷ (gọi tắt là Công ty Mộc Thủy) và Công ty CP SX TM XNK và DV Hồng Ngọc (gọi tắt là Công ty Hồng Ngọc) có ký kết Hợp đồng chuyển nhượng tài sản số 002-05/2005 ngày 18/5/2005, nội dung :

- Sang nhượng toàn bộ tài sản được liệt kê theo Bảng chiết tính gía trị tài sản nhượng bán với tổng giá trị là 715.807.540 đồng.

- Thanh toán :

+ đợt 1 : thanh toán 572.646.032 đồng sau 05 ngày kể từ ngày ký hợp đồng

+ đợt 2 : thanh toán 143.161.508 đồng sau 15 ngày kể từ ngày ký hợp đồng.

Thực hiện hợp đồng

Do từ tháng 12-2004 hai bên đã ký Hợp đồng cho thuê nhà xưởng và máy móc thiết bị số 001-12/2004 ngày 28-12-2004 và hai bên đã lập bảng kiểm kê máy móc thiết bị bàn giao nên khi ký hợp đồng chuyển nhượng hai bên không cần phải làm thủ tục bàn giao nữa.

Công ty Hồng Ngọc đã thanh toán 140.000.000 đồng :

- Phiếu thu số 02 ngày 13/6/2005, số tiền 50.000.000 đồng. Lý do thu : tạm thu tiền hợp đồng chuyển nhượng tài sản (đợt 1)

- Phiếu thu số 03 ngày 03/8/2005, số tiền 70.000.000 đồng. Lý do thu : tạm thu tiền hợp đồng chuyển nhượng tài sản

- Phiếu thu số 06 ngày 15-3-2005 số tiền 100.000.000 đồng, lý do nộp là tiền thuê nhà xưởng và máy móc thiết bị và một phần tạm ứng tiền chuyển nhượng tài sản. Nguyên đơn khấu trừ 80.000.000 đồng là tiền thuê mỗi tháng theo HĐ 001 ngày 28-12-2004 (qui định tại Điều II). Số còn lại 20.000.000 đồng được trừ vào hợp đồng chuyển nhượng.

Như vậy, số tiền còn nợ là 575.807.540 đồng, yêu cầu Công ty Hồng Ngọc thanh toán ngay số nợ này. Sau khi thực hiện xong việc thanh toán, Công ty Mộc Thủy sẽ xuất hoá đơn ( GTGT) theo qui định cho Công ty Hồng Ngọc.

Về các phiếu thu mà Công ty Hồng Ngọc trình bày để xác định số tiền thanh toán cho việc chuyển nhượng, nguyên đơn có ý kiến như sau :

- Phiếu thu số 05 ngày 09/3/2005, số tiền 40.000.000 đồng, lý do nộp là tiền thuê nhà xưởng và máy móc thiết bị HĐ 001. Không phải trả tiền chuyển nhượng.

- Phiếu thu số 06 ngày 15/3/2005, số tiền 100.000.000 đồng, trong đó có 20.000.000 đồng trả tiền mua máy , số tiền 80.000.000 đồng trả cho hợp đồng thuê.

Do Công ty Hồng Ngọc vi phạm thời hạn thanh toán đã thỏa thuận trong hợp đồng nên yêu cầu Công ty Hồng Ngọc phải chịu lãi suất chậm trả từ ngày 3-6-2005 đến 3-4-2007 ( 22 tháng), Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì mức phạt chậm thanh toán là 5%/tháng nhưng nguyên đơn chỉ tính mức 2%. Cụ thể số tiền lãi phạt chậm trả là 253.355.300 đồng.

Trình bày của bị đơn:

- Xác nhận việc ký kết Hợp đồng chuyển nhượng tài sản số 002-05/2005 ngày 18/5/2005 giữa Công ty TNHH SX và TM Mộc Thuỷ và Công ty CP SX TM XNK và DV Hồng Ngọc.

- Xác nhận Công ty Hồng Ngọc đã nhận toàn bộ máy móc thiết bị theo như bảng chiết tính giá trị tài sản nhượng bán đính kèm theo hợp đồng. Tuy nhiên Công ty Mộc Thủy chưa xuất hoá đơn VAT.

- Công ty Hồng Ngọc đã thanh toán cho công ty Mộc Thuỷ số tiền là 240.000.000 đồng, căn cứ chứng từ sau:

+ Phiếu thu số 02 ngày 13/6/2005, số tiền 50.000.000 đồng.

+ Phiếu thu số 03 ngày 03/8/2005, số tiền 70.000.000 đồng.

+ Phiếu thu số 05 ngày 09/3/2005, số tiền 40.000.000 đồng.

+ Phiếu thu số 06 ngày 15/3/2005, số tiền 80.000.000 đồng.

Như vậy, Công ty Hồng Ngọc chỉ còn nợ Công ty Mộc Thủy 475.807.540 đồng. Lý do chưa thanh toán vì công ty Mộc Thủy chưa xuất hoá đơn tài chính cho Công ty Hồng Ngọc.

- Công ty Hồng Ngọc đề nghị sẽ thanh toán số tiền 475.807.540 đồng sau 06 tháng nhưng không chấp nhận trả lãi vì Công ty Mộc Thuỷ chưa xuất hoá đơn.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1- Về quan hệ đang tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ kiện:

Nội dung tranh chấp giữa Công ty TNHH SX & TM Mộc Thủy và Công ty CP SX-TM-XNK & DV HoÀng Ngọc là hợp đồng mua bán máy móc thiết bị. Đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại. Căn cứ vào Điều 29 và Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật về thẩm quyền.

2. Về yêu cầu của nguyên đơn :

a) Về yêu cầu của nguyên đơn đòi thanh toán tiền bán máy 575.807.540 đồng phát sinh từ Hợp đồng chuyển nhượng tài sản số 002-05/2005 ngày 18/5/2005. Hội đồng xét xử có nhận định như sau : Trị giá tài sản mua bán đãõ được các bên xác định là 715.807.540 đồng. Số tiền thanh toán được các bên xác nhận là 140.000.000 đồng, cụ thể :

Phiếu thu số 02 ngày 13/6/2005, số tiền 50.000.000 đồng

Phiếu thu số 03 ngày 03/8/2005, số tiền 70.000.000 đồng

Phiếu thu số 06 ngày 15-3-2005, nguyên đơn xác nhận thu tiền bán máy là 20.000.000 đồng

- Việc Công ty CP Hồng Ngọc trình bày ngoài số tiền đã thanh toán được nguyên đơn xác nhận, bị đơn còn thanh toán theo các chứng từ sau : Phiếu thu số 06 ngày 15-3-2005 số tiền 100.000.000 đồng ; Phiếu thu số 05 ngày 09/3/2005, số tiền 40.000.000 đồng. Hội đồng xét xử có nhận thấy :

+ Phiếu thu số 06 ngày 15-3-2005 số tiền 100.000.000 đồng, lý do nộp là tiền thuê nhà xưởng và máy móc thiết bị và một phần tạm ứng tiền chuyển nhượng tài sản. Do hợp đồng mua bán máy mãi đến ngày 18-5-2005 mới ký còn Hợp đồng cho thuê nhà xưởng và máy móc thiết bị số 001-12/2004 ngày 28-12-2004, giá thuê 80.000.000đồng/ tháng (qui định tại Điều II). Căn cứ chứng từ thanh toán tiền thuê máy có trong hồ sơ thì việc nguyên đơn trừ 80.000.000 đồng vào hợp đồng thuê. Số còn lại 20.000.000 đồng được trừ vào tiền chuyển nhượng là có cơ sở.

+ Phiếu thu số 05 ngày 09/3/2005, số tiền 40.000.000 đồng, lý do nộp là tiền thuê nhà xưởng và máy móc thiết bị HĐ 001, không phải là trả tiền chuyển nhượng.

Mặt khác, trình bày của bị đơn không được nguyên đơn xác nhận do đó các phiếu thu mà bị đơn viện dẫn chứng minh cho việc thanh toán là không có cơ sở.

Với những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi số tiền 575.807.540 đồng.

b) Về yêu cầu đòi phạt chậm thanh toán đối với Công ty CP Hồng Ngọc số tiền 253.355.300 đồng, Hội đồng xét xử có nhận định như sau :

- Về thời hạn tính phạt : Thời hạn thanh toán được qui định tại Điều II của hợp đồng là 15 ngày kể từ ngày ký hợp đồng. Hợp đồng được ký ngày 18-5-2005, nguyên đơn bắt đấu tính lãi từ 3-6-2005 là phù hợp thỏa thuận.

Về mức tính phạt : Luật thương mại năm 1997 có hiệu lực từ ngày 1-1-1998, tại điều 233 qui định về quyền đòi tiền lãi do chậm thanh toán: Trong trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán phí dịch vụ, các chi phí khác thì bên kia có quyền đòi tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng NN VN qui định tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có qui định khác. Điều III trong hợp đồng các bên đãï có thỏa thuận mức phạt là 5%/tháng nhưng nguyên đơn chỉ yêu cầu tính mức 2%/tháng nên ghi nhận sự tự nguyện này.

Với những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn phạt chậm thanh toán đối với Công ty CP Hồng Ngọc số tiền 253.355.300 đồng.

3.Về án phí

Công ty CP SX-TM-XNK & DV HoÀng Ngọc phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn.

Công ty TNHH SX & TM Mộc Thủy không phải chịu án phí nên được nhận lại toàn bộ tạm ứng án phí đã nộp.

Từ các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Luật thương mại 1997 có hiệu lực ngày 1-1-1998

Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ qui định về án phí, lệ phí tòa án.

Căn cứ khoản 1 phần III Thông tư liên tịch số 01-TT/LT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của Tòa án nhân dân tối cao -Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản,

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

Công ty CP SX-TM-XNK & DV HoÀng Ngọc có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH SX & TM Mộc Thủy số tiền 829.162.840 đồng, phát sinh Hợp đồng chuyển nhượng tài sản số 002-05/2005 ngày 18/5/2005, gồm

- Nợ tiền hàng 575.807.540 đồng

- Phạt chậm thanh toán 253.355.300 đồng

Sau khi Công ty Hồng Ngọc thực hiện xong việc thanh toán, Công ty Mộc Thủy có trách nhiệm giao bộ hồ sơ của máy và xuất hóa đơn theo qui định cho Công ty Hồng Ngọc

2. Về án phí:

Công ty CP SX-TM-XNK & DV HoÀng Ngọc phải chịu án phí là 24.582.000 đồng.

Công ty TNHH SX & TM Mộc Thủy không phải chịu án phí nên được nhận lại 10.458.075 đồng, là tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 002671 ngày 27-7-2006 của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

Việc thi hành án được thực hiện tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khỏan tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khỏan tiền, hàng tháng, bên phải thi hành án còn phải chịu khỏan tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước qui định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

BẮC VIỆT LUẬT ( BVL LAWFIFM)
" HÃY NÓI VỚI LUẬT SƯ ĐIỀU BẠN CẦN"
-------------------------------------------
LIÊN HỆ DỊCH VỤ Ở ĐÂY:
HOTLINE: 0938188889 - 0988631168(Luật sư Vũ Dũng)
Email: ceo@bacvietluat.vn – hoặc dichvu@bacvietluat.vn
Website: www.sanduan.vn - www.bacvietluat.vn - www.tuvanluat.com.vn
HOẶC BẠN ĐIỀN VÀO Ô DƯỚI ĐÂY ĐỂ GẶP LUẬT SƯ:
Liên hệ yêu cầu dịch vụ với luật sư BVL Lawfirm.
Tên
Email
Tiêu đề
Nội dung + Tel

Hỗ trợ

 
Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Hotline
  • 0988631168
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp
  • Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Hotline
  • 0938188889
  • Đăng ký kinh doanh - Giấy phép
  • Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Luật sư tư vấn
  • 0913.753.918
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp
  • Đấu thầu – Mua bán doanh nghiệp
  • Mr Dũng
  • 01686319999
  • Đấu thầu – Mua bán doanh nghiệp
  • Thành lập doanh nghiệp
  • TÊN NHÂN VIÊN
  • 0422155966
  • Thành lập doanh nghiệp
  • Tranh tụng – tư vấn luật
  • Mr Vũ
  • 0988631168
  • Tranh tụng – tư vấn luật
  • Mua bán công ty – Tư vấn dự án
  • Mr Dũng
  • 01687696666
  • Mua bán công ty – Tư vấn dự án
  • TIN

    Luật Đầu tư 2005 giải thích “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà ...

    Trước 1932, Thái Lan là một nhà nước quân chủ tuyệt đối. Cuộc đảo chính năm 1932 lật đổ chế độ quân chủ đã đưa giới quân sự trở thành lực lượng chính trị chiếm ưu thế trong nước, chi phối các hoạt động lập pháp.