Vụ án công ty Đức Thuận kháng cáo sơ thẩm Tòa Tân Bình

Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã nhận định việc ký nhận hàng và ký nhận trong hoá đơn GTGT không phải là người đại diện trước pháp luật của bị đơn, từ đó xác định không có cơ sở để buộc bị đơn thanh toán tiền nợ mua hàng và nợ lãi cho nguyên đơn. 

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy việc đánh giá chứng cứ của cấp sơ thẩm là không phù hợp, bởi lẽ, hợp đồng mua bán nêu trên đã phát sinh hiệu lực, nguyên đơn đã chứng minh nghĩa vụ thực hiện hợp đồng qua việc giao hàng và hoá đơn cho bị đơn, người ký nhận hàng đã sử dụng dấu mộc của Công ty TNHH Đại Tần, do đó, việc chứng minh về quan hệ pháp lý của những người nhận hàng, hoá đơn thuộc về trách nhiệm của phía bị đơn trong trường hợp có tranh chấp trong nội bộ Công ty TNHH Đại Tần.

Xét, cấp sơ thẩm còn nhận định nguyên đơn không chứng minh được số hàng đã giao được xuất theo hợp đồng mua bán hàng hoá ngày 12/4/2006, điều này không thể chấp nhận, bởi lẽ, phía bị đơn đã xác nhận có việc mua hàng và chưa thanh toán số tiền còn lại trong hợp đồng và cam kết trả nợ vào ngày 07/5/2006 tại giấy cam kết xác nhận công nợ do đại diện Công ty TNHH Đại Tần ký tên, đóng dấu mộc Công ty chuyển Fax đi từ số máy của bị đơn đến nguyên đơn ngày 29/4/2006.
 
Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán tiền hàng còn thiếu và lãi phát sinh do chậm thanh toán.



Bản án số 1009/2007/KDTM-PT 
Ngày 05/09/2007

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán 

Ngày 05 tháng 09 năm 2007 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2007/TLPT-KDTM ngày 28 tháng 05 năm 2007 tranh chấp về “ hợp đồng mua bán “.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2007/KDTM-ST ngày 12/04/2007 của Tòa án nhân dân Quận Tân Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1600/2007/QĐPT- KDTM ngày 25 tháng 07 năm 2007 giữa các đương sự :

Nguyên đơn : Công ty TNHH TM & Kỹ thuật lạnh Đức Thuận

Địa chỉ : 166 Nguyễn văn Đậu, Phường 7 Quận Bình Thạnh

Người đại diện theo uỷ quyền : Bà Nguyễn thị Thuý Ngọc – sinh 1984

Địa chỉ cư trú: 14/5C hẻm C7 Hoàng Hoa Thám,P.13 Q. Tân Bình.

(Văn bản uỷ quyền ngày 06/7/2007)

Bị đơn : Công ty TNHH Đại Tần

Địa chỉ : 196 Đồng Đen, Phường 14 Quận Tân Bình TP.HCM

Người đại diện trước pháp luật : Ông Trần Văn Hộ – CT.HĐTV

Người kháng cáo : Công ty TNHH TM & Kỹ thuật lạnh Đức Thuận.

NHẬN THẤY

Theo đơn kiện nộp ngày 31/08/2006 và các lời tự khai trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên Tòa của nguyên đơn là Công ty TNHH TM & Kỹ thuật lạnh Đức Thuận có bà Nguyễn thị Thuý Ngọc – đại diện do uỷ quyền trình bày thì giữa nguyên đơn và bị đơn là Công ty TNHH Đại Tần có ký hợp đồng số 12/04/DURECO-ĐT ngày 12/4/2006 về việc thỏa thuận nguyên đơn bán cho bị đơn 12 máy điều hoà không khí, trị giá 61.000.000 đồng. Ngày 16/4/2006 bị đơn thanh toán 15.000.000 đồng nên số tiền còn phải thanh toán là 46.100.000 đồng. Sau đó, nguyên đơn đã nhiều lần đòi nợ nhưng bị đơn không trả. Ngày 17/6/2006 Phó giám đốc Công ty TNHH Đại Tần là ông Nguyễn Tường Trung đã ký biên bản làm việc với nguyên đơn, xác nhận ngày 16/4/2006 đã thanh toán cho nguyên đơn 15.000.000 đồng, còn lại 46.100.000 đồng, tiếp đó đã thanh toán thêm 38.100.000 đồng nên số nợ chỉ còn là 8.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh nguyên đơn đã nhận số tiền trả thêm đợt 2, vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tòan bộ số nợ gốc là 46.100.000 đồng và nợ lãi đã thỏa thuận trong hợp đồng là 5.071.000 đồng trong thời hạn 1 tháng.

Trong qúa trình thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn đến Toà tham dự phiên hòa giải và xét xử nhưng bị đơn vắng mặt không lý do .

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 06/2006/KDTM-ST ngày 12/04/2007 của Tòa án nhân dân Quận Tân Bình đã nhận định :

- Căn cứ hợp đồng số 12/04/DURECO-ĐT ngày 12/4/2006 giữa nguyên đơn và bị đơn thì hai bên đã phát sinh quan hệ kinh doanh thương mại.

- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở, vì :

+ Không cung cấp chứng cứ là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của bị đơn để có cơ sở tìm ra ai là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Đại Tần nhằm xem xét trách nhiệm của người đại diện của bị đơn.

+ Không chứng minh được những người ký nhận hàng trong hoá đơn GTGT số 0070357 ngày 15/4/2006 và biên bản giao nhận hàng vào ngày 15/4/2006 gồm ông Trương Dân Trân và ông Nguyễn Thời Trung có phải là người của bị đơn hay không và những người này có đủ thẩm quyền đại diện Công ty TNHH Đại Tần giao dịch và chịu trách nhiệm hợp pháp đối với việc thực hiện hợp đồng đã ký kết hay không ?

+ Không chứng minh được số hàng đã giao được xuất theo hợp đồng mua bán hàng hoá ngày 12/4/2006, nên đã tuyên xử :

- Bác yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi bị đơn thanh toán số tiền 46.100.000 đồng và tiền lãi 5.071.000 đồng theo hợp đồng mua bán số 12/04/DURECO-ĐT ngày 12/4/2006.

Ngoài ra, Tòa sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự theo luật định.

Tại phiên Tòa phúc thẩm :

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo toàn văn bản án vì cho rằng cấp sơ thẩm xét xử không khách quan và gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn, vì vậy, yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên Tòa, HĐXX phúc thẩm nhận định như sau :

- Về tố tụng : Xét, bị đơn là Công ty TNHH Đại Tần đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần , tuy nhiên, bị đơn vẫn vắng mặt, vì vậy căn cứ theo khoản 2 điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải trả số nợ phát sinh trong hợp đồng mua bán số 12/04/DURECO-ĐT ngày 12/4/2006.

Xét, yêu cầu này là có cơ sở, bởi lẽ, tại phiên Tòa sơ thẩm cũng như trong phiên Tòa hôm nay phía nguyên đơn đã xuất trình hợp đồng mua bán nêu trên, trong đó thể hiện bên bán hàng có ông Lê Quang Hiếu – Giám đốc- là người đại diện truớc pháp luật của Công ty TNHH TM & Kỹ thuật lạnh Đức Thuận và bên mua hàng là Công ty TNHH Đại Tần có ông Trần Văn Hộ – Giám đốc- đại diện ký kết hợp đồng.

Căn cứ vào công văn số 11334/PĐKKD-KT ngày 06/8/2007 do nguyên đơn cung cấp thông tin doanh nghiệp bổ sung thể hiện ông Trần văn Hộ- chức danh Chủ tịch Hội đồng thành viên là người đại diện trước pháp luật của Công ty TNHH Đại Tần, do đó, có cơ sở xác định hợp đồng nêu trên có hình thức và nội dung phù hợp với quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực.

Căn cứ Quyết định thành lập phân xưởng ngày 01/04/2002 và xác nhận tại văn bản ngày 08/8/2007 của bà Nguyễn Thuỵ Kim Huệ là nhân viên giao hàng hoá tại Biên bản giao nhận ngày 15/4/2006 đã thể hiện bên giao hàng là Trung tâm điện lạnh- điện máy Thiên Minh là đơn vị trực thuộc của nguyên đơn đã giao 11 máy điều hoà không khí cho bên nhận là Công ty TNHH Đại Tần có ông Nguyễn Tường Trung ký tên và đóng dấu của Công ty TNHH Đại Tần và hoá đơn GTGT số 0070357 xuất cùng ngày 15/4/2006 cho bị đơn.

Căn cứ giấy cam kết xác nhận công nợ (bản Fax) do đại diện Công ty TNHH Đại Tần gởi nguyên đơn ngày 29/4/2006 thể hiện có việc mua hàng và chưa thanh toán số tiền còn lại trong hợp đồng và cam kết trả nợ vào ngày 07/5/2006.

Từ những căn cứ nêu trên có cơ sở để xác định nguyên đơn đã giao hàng hoá đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng số 12/04/DURECO-ĐT ngày 12/4/2006.

Xét, cấp sơ thẩm đã nhận định việc ký nhận hàng và ký nhận trong hoá đơn GTGT không phải là người đại diện trước pháp luật của bị đơn, cụ thể, không rõ những người này có phải là người của bị đơn hay không và có đủ thẩm quyền đại diện Công ty TNHH Đại Tần giao dịch và chịu trách nhiệm hợp pháp đối với việc thực hiện hợp đồng đã ký kết hay không ? từ đó xác định không có cơ sở để buộc bị đơn thanh toán tiền nợ mua hàng và nợ lãi cho nguyên đơn. Xét thấy việc đánh giá chứng cứ này là không phù hợp, bởi lẽ, hợp đồng mua bán nêu trên đã phát sinh hiệu lực, nguyên đơn đã chứng minh nghĩa vụ thực hiện hợp đồng qua việc giao hàng và hoá đơn cho bị đơn, người ký nhận hàng đã sử dụng dấu mộc của Công ty TNHH Đại Tần, do đó, việc chứng minh về quan hệ pháp lý của những người nhận hàng, hoá đơn thuộc về trách nhiệm của phía bị đơn trong trường hợp có tranh chấp trong nội bộ Công ty TNHH Đại Tần.

Xét, cấp sơ thẩm còn nhận định nguyên đơn không chứng minh được số hàng đã giao được xuất theo hợp đồng mua bán hàng hoá ngày 12/4/2006, điều này không thể chấp nhận, bởi lẽ, như đã phân tích trên phía bị đơn đã xác nhận có việc mua hàng và chưa thanh toán số tiền còn lại trong hợp đồng và cam kết trả nợ vào ngày 07/5/2006 tại giấy cam kết xác nhận công nợ do đại diện Công ty TNHH Đại Tần ký tên, đóng dấu mộc Công ty chuyển Fax đi từ số máy của bị đơn đến nguyên đơn ngày 29/4/2006. Mặt khác, phía bị đơn đã không đến Toà tham gia tố tụng nên không có cơ sở để xác định có tranh chấp trong việc phát hành văn bản này, vì vậy chứng cứ này do nguyên đơn xuất trình phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Xét, nguyên đơn xác nhận ngày 15/4/2006 bị đơn đã thanh toán 25% trị giá hợp đồng là 15.000.000 đồng, số tiền còn lại là 46.100.000 đồng. Phía bị đơn không có mặt vì vậy không có căn cứ để chứng minh đã thanh toán hết số tiền còn nợ lại, vì vậy, bị đơn có trách nhiệm thanh toán ngay số tiền nêu trên cho nguyên đơn.

Xét, thỏa thuận trong hợp đồng mua bán số tiền 46.100.000 đồng sẽ được thanh toán trong vòng 7 ngày sau khi giao hàng và xuất hoá đơn cho bên mua, nguyên đơn đã chứng minh việc giao hàng và giao hoá đơn cho bị đơn nhưng bị đơn không thực hiện việc trả tiền mua hàng, vì vậy, phải chịu lãi chậm trả theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Xét, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi do chậm trả là 5.071.000 đồng là có lợi cho bị đơn, vì vậy, nghĩ nên ghi chấp nhận. Xét, do cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên cần phải sửa án sơ thẩm cho phù hợp.

Về án phí KTST : Bị đơn phải chịu trên số tiền phải trả cho nguyên đơn, nguyên đơn không phải chịu án phí KTST.

Về án phí KTPT : Do sửa án sơ thẩm nên nguyên đơn không phải chịu án phí KTPT.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các khoản điều 258 và 275 của Bộ luật tố tụng dân sự ; điều 24, 50 và 306 Luật Thương mại có hiệu lực thi hành ngày 01/1/2006 và điều 281 và 290 Bộ luật dân sự năm 2005 và khoản 2 điều 15, khoản 2 điều 18, khỏan 1 điều 19, khoản 2 điều 20 Nghị định 70/CP ngày 12-6-1997 của Chính phủ quy định về án phí Tòa án. Khỏan 1 phần III thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của TANDTC – VKSNDTC- BTP- BTC hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản . Tuyên xử : Sửa án sơ thẩm

1- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn :

- Công Ty TNHH Đại Tần có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH TM & Kỹ thuật lạnh Đức Thuận số tiền nợ hàng hóa còn thiếu phát sinh từ hợp đồng mua bán số 12/04/DURECO-ĐT ngày 12/04/2006 là 51.171.000 đồng (Năm mươi mốt triệu một trăm bảy mươi mốt ngàn ). Trong đó, gồm nợ gốc là 41.600.000 đồng và nợ lãi chậm trả là 5.071.000 đồng.

- Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật tại Thi hành án dân sự Quận Tân Bình.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khoản tiền trên thì hàng tháng bị đơn còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2- Về án phí KTST: Công ty TNHH Đại Tần phải chịu là 2.559.000 đồng, nộp tại Thi hành án dân sự Tân Bình. Công ty TNHH TM & Kỹ thuật lạnh Đức Thuận không phải chịu án phí KTST, được nhận lại tiền tạm ứng án phí là 1.209.000 đồng theo BL số 003003 ngày 10/10/2006 của Thi hành án dân sự Quận Tân Bình.

3- Về án phí KTPT Công ty TNHH TM & Kỹ thuật lạnh Đức Thuận không phải chịu, được nhận lại số tiền tạm ứng kháng cáo là 200.000 đồng theo BL số 003808 ngày 23/4/2007 ( 50.000 đồng)và 06032 ngày 15/6/2007 (150.000 đồng) của Thi hành án dân sự Quận Tân Bình.

Bản án này có hiệu lực pháp luật ngay.

BẮC VIỆT LUẬT ( BVL LAWFIFM)
" HÃY NÓI VỚI LUẬT SƯ ĐIỀU BẠN CẦN"
-------------------------------------------
LIÊN HỆ DỊCH VỤ Ở ĐÂY:
HOTLINE: 0938188889 - 0988631168(Luật sư Vũ Dũng)
Email: ceo@bacvietluat.vn – hoặc dichvu@bacvietluat.vn
Website: www.sanduan.vn - www.bacvietluat.vn - www.tuvanluat.com.vn
HOẶC BẠN ĐIỀN VÀO Ô DƯỚI ĐÂY ĐỂ GẶP LUẬT SƯ:
Liên hệ yêu cầu dịch vụ với luật sư BVL Lawfirm.
Tên
Email
Tiêu đề
Nội dung + Tel

Hỗ trợ

 
Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Hotline
  • 0988631168
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp
  • Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Hotline
  • 0938188889
  • Đăng ký kinh doanh - Giấy phép
  • Tư vấn doanh nghiệp – Giấy phép
  • Luật sư tư vấn
  • 0913.753.918
  • Tư vấn thành lập doanh nghiệp
  • Đấu thầu – Mua bán doanh nghiệp
  • Mr Dũng
  • 01686319999
  • Đấu thầu – Mua bán doanh nghiệp
  • Thành lập doanh nghiệp
  • TÊN NHÂN VIÊN
  • 0422155966
  • Thành lập doanh nghiệp
  • Tranh tụng – tư vấn luật
  • Mr Vũ
  • 0988631168
  • Tranh tụng – tư vấn luật
  • Mua bán công ty – Tư vấn dự án
  • Mr Dũng
  • 01687696666
  • Mua bán công ty – Tư vấn dự án
  • TIN

    Luật Đầu tư 2005 giải thích “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà ...

    Trước 1932, Thái Lan là một nhà nước quân chủ tuyệt đối. Cuộc đảo chính năm 1932 lật đổ chế độ quân chủ đã đưa giới quân sự trở thành lực lượng chính trị chiếm ưu thế trong nước, chi phối các hoạt động lập pháp.